TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA PHÚC THẨM TẠI THÀNH PHỐ HCM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ----------------- |
------------ Án số: 138/2012/DS-PT Ngày: 10/4/2012 Về việc: “Tranh chấp đòi tài sản”. |
|
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HCM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 1. Ông Nguyễn Quốc T
Các Thẩm phán: 2. Ông Huỳnh Lập T
3. Ông Hà Văn T
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Q, Cán bộ Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố HCM.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tham gia phiên tòa: Ông Võ Văn T, Kiểm sát
viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2012, tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại thành phố HCM xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 86/20117ĐS-PT ngày 16 tháng 12 năm 2011 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2011/DS-ST ngày 02 tháng 8 năm 2011 của Tòa án nhân dân tỉnh AG bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 193/2012/QĐ-DS ngày 12 tháng 01 năm 2012 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Ông NĐ_Dương Hứa Xã (tự NĐ_Dương Văn Ninh), sinh năm 1937 (Có mặt). Địa chỉ: 39 đường PĐP, phường ML, thành phố LX, tỉnh AG.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lê Văn Nam, sinh năm 1982 (Có mặt). Địa chỉ: 399/11 đường NĐC, phường 5, quận X, thành phố HCM.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư PTH, Đoàn Luật sư thành phố HCM (Có mặt).
Bị đơn:
1. Bà BĐ_Dư Mỹ Vy, sinh năm 1957.
Địa chỉ: Số 54/5, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG. Người đại diện hợp pháp: ông Trần Ngọc Phước, sinh năm 1977 (Có mặt).
Địa chỉ: số 370 tổ 12, ấp An Thuận, xã HB, huyện CM, tỉnh AG.
2. Ông BĐ_Từ Song, sinh năm 1957.
Người đại diện hợp pháp: Bà BĐ_Dư Mỹ Vy (Vắng mặt).
Địa chỉ: Số 54/5, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư NCT, Đoàn Luật sư thành phố HN (Có mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Bà LQ_Từ Tú Linh, sinh năm 1987 (Vắng mặt).
2. Bà LQ_Từ Ngọc Đoan, sinh năm 1990 (Có mặt).
3. Bà LQ_Dư Mỹ Lan, sinh năm 1964 (Có mặt).
4. Ông LQ_Nguyễn Ngọc Sinh, sinh năm 1963 (Có mặt).
5. Bà LQ_Nguyễn Ngọc Tiếu (Vắng mặt).
6. Ông LQ_Dư Đạt Pha, sinh năm 1977 (Vắng mặt).
7. Bà LQ_Dư Mỹ Dân, sinh năm 1962 (Có mặt).
8. Bà LQ_Dư Mỹ Hinh, sinh năm 1968.
Người đại diện hợp pháp: Ông Châu Công Cẩn (Có mặt).
Địa chỉ: 152 đường LML, phường ML, thành phố LX, tỉnh AG.
9. Ông LQ_Trần Văn Bình, sinh năm 1950 (Có mặt).
10. Ông LQ_Trần Gia Định, sinh năm 1982 (Có mặt).
Cùng địa chỉ: số 54/5, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG.
11. Ông LQ_Dương Oanh (LQ_Oanh Duong), sinh năm 1936. Địa chỉ: 301 LT Ave Apt#3 Oakland, CA 94606, USA
Người đại diện hợp pháp: Ông NĐ_Dương Hứa Xã (Có mặt).
12. Ông LQ_Dương Hứa Phú (LQ_Tuafa Yang), sinh năm 1943. Địa chĩ: 11215 PPN Lane, Houston, TX 77072-3512, USA
Người đại diện hợp pháp: Ông NĐ_Dương Hứa Xã (Có mặt).
13. Bà LQ_Dương Thị Hân (LQ_Hanh Duong), sinh năm 1931. Địa chỉ: 2724 CF Dr, Garland, TX 75044, USA
Người đại diện hợp pháp: Ông NĐ_Dương Hứa Xã (Có mặt).
Nguyên đơn, ông NĐ_Dương Hứa Xã và người đại diện hợp pháp trình bày:
Nguyên căn nhà gắn liền với phần đất thổ cư và vườn tạp, tọa lạc tại số 54/5 (số cũ 27/3) đường THĐ, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG, thuộc quyền sở hữu của mẹ ông NĐ_Xã là bà Từ Thị Lãnh (đất thuộc địa bộ số 193, lô 100, tờ thứ 2 được nhận chuyển nhượng ngày 07 tháng 8 năm 1965, căn nhà đã có Bản án ngày 31 tháng 8 năm 1973 của Tòa Thượng thẩm SG).
Vào năm 1966 bà Lãnh đã cho em ruột là bà Từ Thị Ba và con rể của bà Ba là ông Dư Thủy Kim (cha của bà BĐ_Dư Mỹ Vy) vào ở nhờ trong căn nhà số 54/5 (27/3 cũ) đường THĐ, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG.
Năm 1978 kinh tế gia đình khá lên, ông Dư Thủy Kim đã trả lại căn nhà số 54/5 đường THĐ cho bà Lãnh, để về lập trại nuôi gà trên đất của bà Từ Thị Ba, rồi bị trộm bắn chết, nên vợ của ông Kim là Trần Ngọc Tý quay lại xin tiếp tục được ở tại căn nhà này. Gia đình ông NĐ_Xã đã có khiếu nại nhiều năm đòi lại nhà và đất này nhưng chưa được giải quyết xong.
Nay ông NĐ_Xã yêu cầu bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song cùng những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đang ở trong căn nhà này phải trả lại căn nhà sàn cây ván gắn liền với phần đất thổ cư và vườn tạp có diện tích là 710,04m2, tọa lạc tại số 54/5 (số cũ 27/3) đường THĐ, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG; đồng thời yêu cầu bồi thường thiệt hại hoa lợi cây trồng trên mặt đất (gồm 3 cây dừa, 01 cây vú sữa, 5 cây xoài) của bà Lãnh trồng, do bị đơn sử dụng trên 10 năm trị giá là 10.000.000 đồng và bồi thường giá trị căn nhà do bị đơn sử dụng xuống cấp hư hỏng là 50.000.000 đồng.
Bị đơn, bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song và người đại diện hợp pháp trình bày:
Nguồn gốc căn nhà số 54/5 (27/3) đường THĐ, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG, hiện đang tranh chấp là tài sản của bà Từ Thị Cải tạo lập. Vào năm 1966 bà Cải đã giao trọn quyền sở hữu tài sản cho cha mẹ của ông bà là ông Dư Thủy Kim và bà Trần Ngọc Tý, là cháu ngoại của bà Cải, theo Giấy chứng nhận ngày 22 tháng 02 năm 1971 của Xã trưởng Ủy ban hành chánh xã MT đã xác nhận. Đến năm 1970 bà Cải mất, không để lại di chúc và gia đình phía bị đơn và hơn 10 nhân khẩu đã sống, sử dụng làm nơi thờ cúng và bỏ nhiều công sức bồi đắp cải tạo và trồng cây lâu năm khác. Nay ông bà không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn, vì nguồn gốc nhà và đất thuộc sở hữu của bà Từ Thị Cải đã giao trọn quyền cho ông Dư Thủy Kim.
Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2011/DSST ngày 02 tháng 8 năm 2011 của Tòa án nhân dân tỉnh AG đã quyết định:
Áp dụng Điều 34, Điều 131, Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 247, Điều 249, khoản 1 Điều 260 Bộ luật Dân sự.
Áp dụng Điều 2 Bộ luật Đất đai năm 1993, Điều 10, Điều 12 Bộ luật Đất đai năm
2003.
Áp dụng Nghị quyết 10/2009/UBTVQH ngày 27 tháng 12 năm 2009 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông NĐ_Dương Hứa Xã đòi bà BĐ_Dư Mỹ Vy, BĐ_Từ Song và các người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trả căn nhà 54/5 (27/3 cũ) gắn liền diện tích đất 707,10m2.
Bà BĐ_Dư Mỹ Vy, ông BĐ_Từ Song đến cơ quan có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà theo quy định của pháp luật (có bản vẽ kèm theo).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06 tháng 8 năm 2011, ông NĐ_Dương Hứa Xã làm đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm này:
Ông NĐ_Dương Hứa Xã và người đại diện hợp pháp trình bày kháng cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song cùng gia đình phải trả lại cho ông NĐ_Xã căn nhà và phần đất gắn liền, với nhà có diện tích là 707,8 m2 tọa lạc tại số 54/5 đường THĐ, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG, ông NĐ_Dương Hứa Xã xác nhận là tại phiên tòa sơ thẩm ông đã rút lại yêu cầu bồi thường thiệt hại hoa lợi cây trồng trên mặt đất trị giá là 10.000.000 đồng và bồi thường giá trị hư hỏng xuống cấp của căn nhà do bị đơn sử dụng là 50.000.000 đồng; ông cũng chưa nộp tiền tạm ứng án phí cho yêu cầu này.
Ông Trần Ngọc Phước, là người đại diện hợp pháp của bà BĐ_Dư Mỹ Vy, cùng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tối cao tại phiên toà đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông NĐ_Dương Hứa Xã và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và ý kiến của các đương sự.
Theo “Tờ chiết bán đất ruộng” ngày 07/8/1965 được ký kết giữa những người thừa kế của bà Dương Thị Thì với bà Từ Thị Ba và bà Từ Thị Lãnh, những người thừa kế của bà Dương Thị Thì đã bán cho bà Từ Thị Ba phần đất có diện tích là 2 mẫu 12,80 với giá tiền là 11.000 đồng và bán cho bà Từ Thị Lãnh phần đất có diện tích là 2 mẫu 00.00 với giá tiền là 10.000 đồng (cùng thuộc địa bộ số 193, lô 100, tờ bản (tờ thứ 2, xã MT, quận CT, tỉnh AG).
Các đương sự cùng xác nhận là vào năm 1966 bà Từ Thị Lãnh đã để cho mẹ ruột của mình là bà Từ Thị Cải xây dựng trên phần đất của bà một căn nhà mái ngói vách ván, rồi để cho bà Từ Thị Ba cùng vợ chồng bà Trần Thị Tý và ông Dư Thủy Kim vào ở trong căn nhà này. Trong thời gian ở tại đây, do bà Từ Thị Ba làm ăn thiếu nợ và bị các chủ nợ kiện ra Toà án và bị buộc phải thi hành án Lệnh số 32/AL ngày 08/02/1971 của ông Chánh án Toà sơ thẩm tỉnh AG, nên ông Thừa phát lại Vũ Huy Hiền đã “sai áp” (phong toả) cả căn nhà và tài sản bên trong căn nhà này. Do đó, bà Từ Thị Lãnh được chính quyền địa phương xác nhận bà Cải chỉ bỏ tiền ra cho bà Lãnh cất nhà, nên đã nhân danh là chủ sở hữu tài sản để khởi kiện ra Toà án xin được “trích xuất” (giải toả) căn nhà này; còn ông Dư Thuỷ Kim cũng khởi kiện ra Toà án, nhưng đã thừa nhận căn nhà này là thuộc quyền sở hữu của bà Lãnh, nên chỉ xin “trích xuất” (giải toả) các tài sản là động sản bên trong căn nhà này. Theo Bản án phúc quyết vụ án số 1464/ĐĐ/72 ngày 31/8/1973 của Toà Thượng thẩm SG đã quyết định cho phép bà Từ Thị Lãnh được “trích xuất một cái nhà cây, vách ván, mái ngói, kể cả nhà sau, để gìn giữ thờ phượng ông bà ”, còn ông Dư Thuỷ Kim được “trích xuất các đồ vật đều ở trong nhà để thờ này”. Như vậy, căn nhà này do bà Từ Thị Cải bỏ tiền ra cho bà Từ Thị Lãnh xây cất, để cho bà Từ Thị Ba và các con của bà Ba ở nhờ, nhưng do bà Ba thiếu nợ bị phong toả, nên bà Lãnh đã nhân danh là chủ sở hữu của căn nhà này để yêu cầu giải toả và được Toà án chấp nhận cho giải toả giao trả lại cho bà Lãnh, tức là bà Lãnh đã được xác lập quyền sở hữu đối với căn nhà này bằng bản án phúc thẩm của Toà Thượng thẩm SG.
Theo bản “Lý đoán” ngày 23/02/1973 của ông Dư Thuỷ Kim gửi ông “Chánh án Toà
Thượng thẩm SG”, ông Kim đã công nhận “Động sản (nhà) ở trên bất động sản (đất) của bà Từ Thị Lãnh thuộc quyền tư hữu của bà Từ Thị Lãnh”... “Vào năm 1972 Ban Tài-Thâu tỉnh tái lập thâu thuế tài khoá 72, thì cái nhà này cũng đã đóng thuế do bà Từ Thị Lãnh là sở hữu hữu chủ” (Bl.209).
Bà BĐ_Dư Mỹ Vy cho rằng cha mẹ bà đã được bà Cải cho căn nhà này, theo Giấy xác nhận ngày 22/02/1971, nhưng giấy xác nhận này đã bị phủ nhận bằng Bản án phúc thẩm số 1464/ĐĐ/72 ngày 31/8/1973 của Toà Thượng thẩm SG, ngoài ra không còn có tài liệu hoặc chứng cứ nào khác để chứng minh. Bà BĐ_Vy còn cho rằng gia đình bà đã ở tại căn nhà này ổn định trên ba mươi năm, nên được xác lập quyền sở hữu theo thời hiệu; song cho dù gia đình bà BĐ_Vy đã ở đây liên tục từ năm 1966 cho đến năm 1987, là thời điểm bà Lãnh đã có tranh chấp, thì cũng chỉ mới có được 21 năm. Tuy nhiên, vào năm 1973 bà Lãnh đã khởi kiện ra Toà án để yêu cầu được giao lại căn nhà này khi nó đã bị sai áp để thanh toán nợ cho bà Ba. Như vậy, vào năm 1973 bà Lãnh đã lấy lại được căn nhà này mới để cho ông Kim và bà Tý cùng các con ở giữ nhà, nên giao dịch ở nhờ nhà ở giữa gia đình bà BĐ_Vy với bà Lãnh chỉ đến thời điểm này mới được xác lập. Vào năm 1978 ông Kim và gia đình đã về làm trang trại chăn nuôi trên đất của bà Ba, sau khi ông Kim chết thì bà Tý cùng các con mới trở lại ở trong căn nhà này cho đến nay.
Theo hướng dẫn tại Tiểu mục 1.2 Mục 1 Phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: “Đối với trường hợp đất do người chết để lại mà người đó có một trong các loại giấy tờ quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003, thì kể từ ngày 01/7/2004 quyền sử dụng đất đó cũng là di sản, không phụ thuộc vào thời điểm mở thừa kế” và tại Điểm e Khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 đã quy định “Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất”. Như vậy, phần đất đang tranh chấp trong vụ án này, bà Từ Thị Lãnh đã có “Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp”, nên được xác định là di sản thừa kế của bà Từ Thị Lãnh. Những người có quyền thừa kế di sản của bà Lãnh là ông Dương Hòa Anh (chồng) đã chết, còn lại những người con là bà LQ_Dương Thị Hân, ông LQ_Dương Oanh và ông LQ_Dương Hứa Phú đều đã có văn bản từ chối nhận di sản, để giao lại cho ông NĐ_Dương Hứa Xã được hưởng (Bl.285, 286 & 287). Cho nên ông NĐ_Dương Hứa Xã là người có quyền thừa kế di sản của bà Từ Thị Lãnh đã khởi kiện đối với bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song đòi lại căn nhà và phần đất gắn liền với nhà toạ lạc tại số 54/5 đường THĐ, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG, là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vào năm 1987 khi xảy ra tranh chấp giữa bà Từ Thị Ba với bà Từ Thị Lãnh, bà Ba đã yêu cầu được sang nhượng lại phần đất mà bà đang sử dụng chỉ có diện tích là 246,75 m2, theo Quyết định số 1156/QĐ.UB.KN ngày 24/5/1999 của Ủy ban nhân dân tỉnh AG (BI. 175); nhưng hiện nay diện tích đất thực tế mà bà BĐ_Vy đang sử dụng là 707,8 m2, như vậy diện tích đất chênh lệch là do phía bà BĐ_Vy đã lấn chiếm thêm đất của bà Lãnh trong thời gian đã xảy ra tranh chấp. Khi mỗi lần bà BĐ_Vy xây cất nhà và làm hàng rào lấn chiếm thêm đất, ông NĐ_Xã đều có văn bản gửi cho chính quyền địa phương để ngăn chặn và phản đối, nên bà BĐ_Vy cho rằng việc bà xây cất thêm nhà trên đất này, ông NĐ_Xã biết mà không phản đối, là không đúng sự thật.
Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án này ở cấp sơ thẩm, ông NĐ_Dương Hứa Xã đồng ý để cho phía bà BĐ_Dư Mỹ Vy được quyền sở hữu căn nhà này với điều kiện là phải dỡ nhà đem đi nơi khác, để trả lại đất trống cho ông. Xét phía bà BĐ_Vy và ông BĐ_Song cùng gia đình đã sinh sống tại căn nhà này trong một thời gian dài, nghĩ cần tạo điều kiện cho các đương sự này được ổn định cuộc sống, nên công nhận cho bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ
Song được quyền sở hữu căn nhà và được quyền sử dụng phần đất gắn liền với căn nhà này có diện tích là 220,30 m2 (vị trí được xác định tại các điểm mốc số 17, 18, 19, 21, 22, 23, 26, 25 theo Bản đồ hiện trạng khu đất của Trung tâm Quan trắc và kỹ thuật Tài nguyên môi trường tỉnh AG lập ngày 11/9/2009), toạ lạc tại số 54/5 đường THĐ, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG; nhưng phải có trách nhiệm hoàn trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông NĐ_Dương Hứa Xã, theo Biên bản định giá ngày 29/6/2010 của Hội đồng định giá do Tòa án nhân dân tỉnh AG triệu tập (Bl.302) và được các đương sự chấp nhận là:
Phần đất ở đô thị tính cho diện tích theo hạn mức là 200 m2:
6.000.000 đồng/m2 x 200 m2 = 1.200.000.000 đồng.
Phần đất còn lại là 20,30 m2 tính theo giá đất trồng cây lâu năm thuộc khu vực trong đô thị là: 158.000 đồng/m2 x 20,30 m2 = 3.207.400 đồng. Tổng cộng là: 1.203.207.400 đồng. Buộc bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song cùng những người có liên quan đang sinh sống tại căn nhà này phải giao trả lại cho ông NĐ_Dương Hứa Xã phần đất còn lại, là loại đất trồng cây lâu năm có diện tích là 487,5m2 (sau khi trừ ra phần đất gắn liền với căn nhà có diện tích là 220,30m2), và phải tháo dỡ nhà bán báo ở phía trước, được xác định tại các điểm mốc số 4, 5, 20 và 16 (theo Bản đồ hiện trạng khu đất của Trung tâm Quan trắc và kỹ thuật Tài nguyên môi trường tỉnh AG lập ngày 11/9/2009).
Do căn nhà và quyền sử dụng phần đất gắn liền với nhà được công nhận là tài sản thuộc chủ quyền của bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song đã bị bao bọc xung quanh bởi phần đất mà quyền sử dụng đất được công nhận là di sản thừa kế của bà Từ Thị Lãnh, phải giao trả lại cho ông NĐ_Dương Hứa Xã. Cho nên, ông NĐ_Dương Hứa Xã phái giành ra một phần diện tích đất để làm lối đi chung, có chiều ngang là 03 (ba) mét, từ ngoài đường THĐ vào đến vị trí tiếp giáp với căn nhà tại điểm mốc số 21 (theo Bản đồ hiện trạng khu đất của Trung tâm Quan trắc và kỹ thuật Tài nguyên môi trường tỉnh AG lập ngày 11/9/2009).
Vì vậy, nghĩ nên chấp nhận kháng cáo cửa ông NĐ_Dương Hứa Xã, sửa bản án sơ
thẩm.
Ông NĐ_Dương Hứa Xã phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.861.595 đồng, tính trên
giá trị phần nhà mà bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song được công nhận quyền sở hữu là 77.231.900 đồng (bao gồm nhà chính là 42.869.400 đồng, nhà tắm là 6.800.000 đồng, nhà tạm là
23.152.500 đồng và bồn chứa nước là 4.410.000 đồng); được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm đã nộp là 400.000 đồng, theo các Biên lai thu tiền số 001747 ngày 01/7/2009 và số 006226 ngày 08/8/2011 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh AG; nên còn phải nộp số tiền là 3.461.595 đồng.
Bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 50.406.972 đồng, tính trên giá trị quyền sử dụng đất mà ông NĐ_Dương Hứa Xã đòi phía bị đơn phải trả lại là 1.280.232.400 đồng.
Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
Căn cứ Khoản 2 Điều 275 và Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/01/2005;
Căn cứ Điều 245; Điều 246; Điều 688, Điều 733 và Điều 734 Bộ luật Dân sự, có hiệu
lực từ ngày 01/01/2006;
Căn cứ Khoản 2 Điều 39, Điều 41 Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01/9/2006;
Căn cứ Pháp lệnh về Án phí, lệ phí Tòa án, có hiệu lực từ ngày 01/7/2009;
Chấp nhận một phần kháng cáo của ông NĐ_Dương Hứa Xã; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 18/2011/DSST ngày 02/8/2011 của Toà án nhân dân tỉnh AG, như sau:
Chấp nhận một phần đơn khởi kiện của ông NĐ_Dương Hứa Xã:
Công nhận bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song được quyền sở hữu căn nhà và quyền sử dụng phần đất gắn liền với nhà có diện tích là 220,30m2 (vị trí được xác định tại các điểm mốc số 17, 18, 19, 21, 22, 23, 26, 25 theo Bản đồ hiện trạng khu đất của Trung tâm Quan trắc và kỹ thuật Tài nguyên môi trường tỉnh AG lập ngày 11/9/2009) toạ lạc tại số 54/5 đường THĐ, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG; nhưng phải có trách nhiệm thanh toán lại cho ông NĐ_Dương Hứa Xã giá trị quyền sử dụng phần đất gắn liền với căn nhà này là 1.203.207.400 đ (Một tỷ hai trăm lẻ ba triệu hai trăm lẻ bảy ngàn bốn trăm đồng).
Buộc bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song cùng những người trong hộ gia đình của ông bà phải tháo dỡ nhà bán báo và giao trả lại cho ông NĐ_Dương Hứa Xã phần đất có diện tích là 487,5m2 (là phần đất còn lại của thửa đất số 139 có diện tích là 707,8m2, sau khi trừ ra phần đất gắn liền với căn nhà có diện tích là 220,30m2) toạ lạc tại số 54/5 đường THĐ, khóm Trung An, phường MT, thành phố LX, tỉnh AG. Trên phần đất này, ông NĐ_Dương Hứa Xã phải dành ra một phần đất làm lối đi chung, có chiều ngang là 3 mét từ ngoài đường THĐ vào đến vị trí tiếp giáp với căn nhà tại điểm mốc số 21, theo Bản đồ hiện trạng khu đất của Trung tâm Quan trắc và kỹ thuật Tài nguyên môi trường tỉnh AG lập ngày 11/9/2009.
Bà BĐ_Dư Mỹ Vy và ông BĐ_Từ Song phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 50.406.972đồng.
Ông NĐ_Dương Hứa Xã phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.861.595 đồng, được trừ
vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm đã nộp là 400.000 đồng, theo các Biên lai thu tiền số 001747 ngày 01/7/2009 và số 006226 ngày 08/8/2011 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh AG, nên còn phải nộp số tiền là 3.461.595 đồng.
Các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Bản án này có
hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Copyright © 2019 OPIC LAW All Right Reserved
Những điểm mới trong luật tạm giữ, tạm giam
Tháng Ba 22, 2019