Skip to main content

TỔNG HỢP BẢN ẢN: TRANH CHẤP LỐI ĐI CHUNG (PHẦN 2)

 

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ST

---------------------------

Bản án số: 63/2013/DS-PT Ngày: 31/05/2013

V/v Tranh chấp hợp đồng chuyển

nhượng quyền sử dụng đất.

CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------------------------------

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

 

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ST

Với thành phần hội đồng xét xử gồm có

 

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa:         1. Ông Phạm Hùng N

Các thẩm phán:                                   2. Ông Nguyễn Văn N

3. Tăng Thị Thúy N

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy L - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh ST.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh ST: Ông Trịnh Thanh H - Kiểm sát viên Trung cấp tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 30 và 31 tháng 05 năm 2013, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh ST xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 51/2013/TLPT-DS ngày 18 tháng 04 năm 2013, về việc “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2013/DS-ST ngày 09/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố ST bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 71/2013/QĐ-PT ngày 26 tháng 04 năm 2013, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

NĐ_Phương Hồng (tên khác Kía), sinh năm 1956

Địa chỉ: Số 94/6 ĐBP, khóm 3, phường 6, thành phố ST, tỉnh ST, (có mặt)

Bị đơn:

1.      Ông BĐ_Thái Anh Hữu (tên khác Kim Lân), sinh năm 1949

2.      BĐ_Ong Thị Cuối Vy, sinh năm 1956

Cùng địa chỉ: Số 17/14 HPH, khóm 6, phường 6, thành phố ST, tỉnh ST, (tất cả mặt)

 

Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.      Ông LQ_Trần Văn Huy, sinh năm 1949

2.      LQ_Tạ Linh (tên khác Mén), sinh năm 1950;

Cùng địa chỉ: số 80 ĐBP, khóm 3, phường 6, thành phố ST, tỉnh ST, (tất cả mặt)

3.      Ông LQ_Trần Chí Cường (tên khác Đen), sinh năm 1979

4.      LQ_Nguyễn Thị Thanh Hồng, sinh năm 1985;

Cùng địa chỉ: Số 94/7 ĐBP, khóm 3, phường 6, thành phố ST, tỉnh ST, (tất cả mặt) Người kháng cáo: Bà NĐ_Phương Hồng Hà và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy.

NHẬN THẤY:

Theo Bản án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm như sau: Nguyên đơn NĐ_Phương Hồng trình bày: Vào ngày 21/7/2003, nhận chuyển nhượng của ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy phần đất cóchiều ngang 1,5m, chiều dài 11m, diện tích 16,5m2 nằm trong thửa đất số 25, tờ bản đồ số 36, tọa

lạc tại khóm 3, phường 6, thị xã ST (nay là thành phố ST) với giá 36.000.000đ (ba mươi sáu triệu đồng) để sử dụng làm đường cho xe tải chạy vào nhà của bà. Việc chuyển nhượng hai bên có làm giấy tay, nhưng chưa làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Qua đo đạc thực tế thì phần đất trên có chiều dài là 10,8m, chiều ngang là 1,5m, diện tích là 16,2m2.

Vào năm 2005, bà đã cho con của bà là chị Trần Xuân Hương diện tích đất có chiều ngang là 1,5m và chiều dài là 4,7m, diện tích là 7,05m2, phần đất này chị Hương đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Phần đất còn lại có chiều ngang là 1,5m, chiều dài 6,1m, diện tích 9,15m2 bà sử dụng làm lối đi, đến tháng 03/2012 thì ống LQ_Trần Văn Huy lấn chiếm đào đất để làm hàng rào. Ông LQ_Huy cho rằng phần đất này ông đã nhận chuyển nhượng của ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy.

Nay bà yêu cầu ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo giấy mua bán lập ngày 21/7/2003 với chiều ngang 1,5m, chiều dài 6,1m, diện tích 9,15m2.

Và yêu cầu ông LQ_Huy và bà LQ_Linh trả lại cho bà phần đất có chiều ngang là 1,5m, chiều dài 6,1m, diện tích 9,15m2 nằm trong thửa đất số 25, tờ bản đồ số 36, đất tọa lạc tại khóm 3, phường 6, thành phố ST để làm lối đi, ông LQ_Huy và bà LQ_Linh không được xây dựng trên phần đất nói trên.

 

Bị đơn bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy trình bày: Bà thừa nhận vào năm 2003 bà và ông BĐ_Hữu chuyển nhượng cho NĐ_Hà diện tích 16,5m2 (ngang 1,5m, dài 11m) với giá

36.000.000 đồng, nhưng qua đo đạc thực tế thì phần đất trên diện tích 16,2m2 (ngang 1,5m, dài 10,8m), việc chuyển nhượng hai bên có làm giấy tay. Năm 2012 bà NĐ_Hà đã làm thủ tục cho con là chị Trần Xuân Hương diện tích 7,05m2 (ngang 1,5m, dài 4,7m), diện tích đất này chị Hương đã được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, diện tích còn lại 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) chưa làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật. Năm 2005 bà và ông BĐ_Hữu được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ với diện tích 53,1m2, thửa 25, tờ bản đồ số 36, tọa lạc khóm 3, phường 6, thị xã ST (nay là thành phố ST) do UBND thị xã ST cấp ngày 22/09/2005, trong diện tích đất được cấp phần diện tích 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà. Năm 2011 bà và ông BĐ_Hữu chuyển nhượng phần nhà và đất còn lại cho ông LQ_Trần Văn Huy và bà LQ_Tạ Linh, khi chuyển nhượng bà và ông BĐ_Hữu có nói cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh biết là trong phần đất chuyển nhượng có phần đất đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà ngang 1,5m, chiều dài hết đất và yêu cầu ông LQ_Huy và bà LQ_Linh chừa lại diện tích đất này cho bà NĐ_Hà làm đường đi công cộng. Nay ông LQ_Huy và bà LQ_Linh lấn chiếm sử dụng nên bà và ông BĐ_Hữu yêu cầu ông LQ_Huy và bà LQ_Linh phải trả lại cho bà NĐ_Hà diện tích 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) để bà NĐ_Hà làm lối đi công cộng, bà và ông BĐ_Hữu không còn trách nhiệm gì với bà NĐ_Hà.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông LQ_Trần Văn Huy và bà LQ_Tạ Linh trình bày: Vào năm 2011, vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng của ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy căn nhà và diện tích đất là 53,1m2, tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 36, nhà và đất tọa lạc tại khóm 3, phường 6, thành phố ST với giá 370.000.000đ. Hai bên đã làm xong thủ tục chuyển nhượng sang tên theo quy định của pháp luật. Khi chuyển nhượng đất thì bà BĐ_Vy và ông BĐ_Hữu không nói cho biết việc chuyển nhượng đất giữa bà BĐ_Vy và ông BĐ_Hữu với bà NĐ_Hà. Chỉ đến khi vợ chồng ông xây dựng lại hàng ba trước cửa nhà, bà NĐ_Hà qua ngăn cản và đưa ra Giấy bán nền vách nhà giữa bà NĐ_Hà với ông BĐ_Hữu thì vợ chồng ông mới biết.

Nay BĐ_Vy yêu cầu ông LQ_Huy với LQ_Linh phải trả lại cho NĐ_Hà diện tích đất chiều ngang 1,5m, chiều dài 6,1m, diện tích 9,15m2 để làm đường đi công cộng thì ông bà không đồng ý, vì đất này ông bà đã nhận chuyển nhượng lại của bà BĐ_Vy và ông BĐ_Hữu hợp pháp và đã làm xong thủ tục chuyển nhượng sang tên

Diện tích đất nói trên hiện ông bà cho con là ông LQ_Trần Chí Cường và chị LQ_Nguyễn Thị Thanh Hồng quản lý và sử dụng.

 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh LQ_Trần Chí Cường và chị LQ_Nguyễn Thị Thanh Hồng trình bày: Anh LQ_Cường và chị LQ_Hồng thống nhất với lời trình bày của ông LQ_Huy và bà LQ_Linh. Anh LQ_Cường và chị LQ_Hồng không đồng ý trả đất theo yêu cầu của bà NĐ_Hà vì đất này bà LQ_Linh và ông LQ_Huy đã nhận chuyển nhượng của bà BĐ_Vy và ông BĐ_Hữu hợp pháp và đã làm xong thủ tục chuyển nhượng sang tên.

 Sự việc được Tòa án nhân dân thành phố ST thụ lý, giải quyết. Tại Bản án sơ thẩm số 02/2013/DS-ST ngày 09/01/2013 đã Quyết định như sau:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 25, Điểm a Khoản 1 Điều 33, Khoản 1 Điều 131, Điều 218,

Khoản 1 Điều 245 và Khoản 1 Điều 252 của Bộ Luật tố tụng dân sự; các Điều 127, 134, 137, 689 và 697 của Bộ Luật dân sự; Khoản 2 Điều 27 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

-        Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà NĐ_Phương Hồng Hà với bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy và ông BĐ_Thái Anh Hữu lập ngày 21/7/2003 vô hiệu một phần với diện tích 9,15m2 nằm trong thửa đất số 25, tờ bản đồ số 36, đất tọa lạc tại khóm 3, phường 6, thành phố ST, tỉnh ST.

-        Buộc vợ chồng bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy và ông BĐ_Thái Anh Hữu hoàn trả cho bà NĐ_Phương Hồng Hà số tiền 20.333.331 đồng.

-        Không chấp nhận yêu cầu của bà NĐ_Phương Hồng Hà về việc bà NĐ_Hà yêu cầu ông LQ_Trần Văn Huy và bà LQ_Tạ Linh trả lại cho bà NĐ_Hà phần đất có chiều ngang là 1,5m, chiều dài 6,1m, diện tích 9,15m2 tại thửa đất số 25, tờ bản đồ số 36, đất tọa lạc tại khóm 3, phường 6, thành phố ST và việc bà NĐ_Hà yêu cầu ông LQ_Huy bà LQ_Linh không được xây dựng trên phần đất nói trên.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các Khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu Khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, chi phí định giá và thông báo quyền kháng cáo cho các đương sự theo luật định.

 

Ngày 22/01/2013 bà NĐ_Phương Hồng Hà có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý với Quyết định của Bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ Bản án sơ thẩm số 02/2013/DS-ST ngày 09/01/2013 của Tòa án nhân thành phố ST, buộc ông LQ_Trần Văn Huy và bà LQ_Tạ Linh giao trả lại hiện trạng ban đầu diện tích đất tranh chấp 9,15m2 để làm lối đi chung, không ai có quyền ngăn chặn và sử dụng riêng.

Ngày 23/01/2013 bị đơn bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý với Quyết định của Bản án sơ thẩm. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết lại vụ việc, trả lại sự công bằng cho bà.

 

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn bà NĐ_Phương Hồng Hà giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện; Người kháng cáo là bà NĐ_Phương Hồng Hà và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy đều giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

-        Về tố tụng: Thời gian, chủ thể và hình thức đơn kháng cáo của bà NĐ_Phương Hồng Hà và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy còn trong thời hạn và đúng theo quy định tại các Điều 243, 244 và 245 của Bộ Luật tố tụng dân sự, nên được chấp nhận về hình thức.

 

-        Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà NĐ_Phương Hồng Hà, bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy và ông BĐ_Thái Anh Hữu trình bày thống nhất: Nguyên vào ngày 21/07/2003 bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy và ông BĐ_Thái Anh Hữu có chuyển nhượng cho bà NĐ_Phương Hồng Hà diện tích đất 16,5m2 (đo đạc thực tế 16,2m2) sát vách bên hông nhà để bà NĐ_Hà mở rộng lối đi với số tiền 36.000.000đồng, sau khi chuyển nhượng cũng trong năm 2003 bà BĐ_Vy và ông BĐ_Hữu xây dựng lại nhà một trệt một lầu quay mặt nhà ra phần đất đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà, phần nhà trệt xây dựng tường đúng ranh, phần lầu xây dựng ban công ra 1,2m nằm trên đất đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà và được bà NĐ_Hà đồng ý, sau khi nhận chuyển nhượng bà NĐ_Hà sử dụng làm lối đi chung và nơi để quay đầu xe tải, đếm năm 2005 bà NĐ_Hà cho Trần Xuân Hương diện tích 7,05m2 (ngang 1,5m, dài 4,7m) để xây dựng nhà ở và bà Hương đã được cấp GCNQSDĐ ngày 03/05/2012, diện tích còn lại 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) phía trước nhà BĐ_Vy và ông BĐ_Hữu bà NĐ_Hà làm lối đi chung và cửa nhà bà Hương cũng đi ra lối này. Năm 2005 ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 53,1m2, thửa số 25, tờ bản đồ số 36, trong diện tích được cấp có diện diện tích 9,15 đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà. Đến ngày 29/08/2011 BĐ_Vy ông BĐ_Hữu chuyển nhượng toàn bộ nhà đất cho ông LQ_Trần Văn Huy và bà LQ_Tạ Linh với số tiền 370.000.000 đồng, khi chuyển nhượng bà BĐ_Vy và ông BĐ_Hữu cũng nói rõ cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh biết diện tích đất phía trước nhà 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) là đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà chưa tách quyền sử dụng đất, bà NĐ_Hà để làm đường đi sử dụng chung không ai được quyền xây dựng hay rào lại diện tích đất này. Nay ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng, yêu cầu ông LQ_Huy và bà LQ_Linh, ông LQ_Cường và bà LQ_Hồng lấp lại các lỗ đã đào, tháo dỡ công trình xây dựng trên đất để trả lại hiện trạng ban đầu và đưa diện tích đất 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) vào sử dụng công cộng.

Ngược lại, ông LQ_Huy và bà LQ_Linh cho rằng vào ngày 29/08/2011 ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy thỏa thuận chuyển nhượng toàn bộ nhà ở và đất ở diện tích 53,1m2, không có việc cho biết diện tích 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà và không có việc thỏa thuận để lại cho bà NĐ_Hà làm lối đi chung. Việc chuyển nhượng các bên đã tiến hành làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất đúng theo quy định của pháp luật, diện tích đất tranh chấp 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) thuộc thửa 25, tờ bản đồ số 36 thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông, nên theo bà NĐ_Hà, bà BĐ_Vy và ông BĐ_Hữu yêu cầu là ông bà không thống nhất. Nhà đất sau khi nhận chuyển nhượng ông bà cho con là LQ_Trần Chí Cường và LQ_Nguyễn Thị Thanh Hồng ở và quản lý sử dụng cho đến nay.

Xét thấy, việc bà NĐ_Phương Hồng Hà có nhận chuyển nhượng của ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy phần đất có diện tích 16,5m2 (đo đạc thực tế 16,2m2, ngang 1,5m, dài 10,8m) vào ngày 21/07/2003, tại phiên tòa các bên đều thừa nhận việc chuyển nhượng, không có tranh chấp và đồng ý tiếp tục thực hiện hợp đồng. Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định vào ngày 21/07/2003 giữa bà NĐ_Phương Hồng Hà với ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy có xác lập Hợp đồng (giấy tay) chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 16,2m2 (có 9,15m2 đất tranh chấp) là sự việc có thật và xảy ra trên thực tế khách quan. Tuy về hình thức chưa tuân thủ chưa thực hiện việc chuyển quyền sử dụng đất theo quy định, nhưng trên thực tế ông BĐ_Hữu và BĐ_Vy đã thực hiện giao đất chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà xong, bà NĐ_Hà đã nhận đất cho đất lại bà Hương và đưa diện tích đất tranh chấp vào sử dụng chung, đồng thời bà NĐ_Hà đã thực hiện nghĩa vụ trả tiền xong cho ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy, việc chuyển nhượng của các bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội, nên cần công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà NĐ_Phương Hồng Hà với ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy xác lập ngày 21/07/2003 là có căn cứ và đúng luật định.

Ngày 29/08/2011 bà BĐ_Vy và ông BĐ_Hữu chuyển nhượng phần nhà và đất còn lại cho ông LQ_Trần Văn Huy và bà LQ_Tạ Linh, trong đó diện tích đất chuyển nhượng là 53,1m2, việc chuyển nhượng các bên đã tiến hành các thủ tục đúng theo quy định pháp luật và đã chuyển quyền sử dụng đất cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh. Tuy nhiên, trên thực tế trong diện tích đất chuyển nhượng cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh có phần diện tích đất mà ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà 9,15m2 vào ngày 21/07/2003, đúng ra khi làm thủ tục chuyển quyền phải tách diện tích này để lại cho bà NĐ_Hà, nhưng đã chuyển hết diện tích đất cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh là không đúng pháp luật. Tại phiên tòa theo ông BĐ_Hữu BĐ_Vy cho rằng khi chuyển nhượng nhà đất cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh là có thông tin cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh biết trong diện tích đất 53,1m2 là có diện tích đất, mà ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà 9,15m2 và các bên thỏa thuận diện tích đất chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà để làm lối đi chung không ai xây dựng trên đất và sử dụng riêng, tuy ông LQ_Huy và bà LQ_Linh không thừa nhận có việc thông tin và thỏa thuận như trên, nhưng theo xác nhận của bà Trần Thị Hồng Loan và ông Quách Tuấn Minh là biết sự thỏa thuận này. Mặc dù ông LQ_Huy và bà LQ_Linh không biết trong diện tích đất 53,1m2 là có diện tích đất mà ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà 9,15m2, nhưng bản thân ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy biết đất mình đã chuyển nhượng cho bà NĐ_Hà mà lại tiếp tục chuyển nhượng cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh là trái pháp luật, đã xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của người nhận chuyển nhượng trước là bà NĐ_Hà. Do đó, khi xác lập chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh thì ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy có sự gian dối, nên cần hủy một phần Hợp đồng chuyển nhượng giữa ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy với ông LQ_Huy LQ_Linh xác lập ngày 29/08/2011 trên diện 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) là có căn cứ và đúng theo quy định tại Điều 131 và Khoản 2 Điều 138 của Bộ Luật dân sự. Đồng thời, kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố ST điều chỉnh lại diện tích đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 268206 ngày 22 tháng 9 năm 2005 cấp cho ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy và đã điều chỉnh lại cho ông LQ_Trần Văn Huy và bà LQ_Tạ Linh (tháng 10/2011) cho đúng thực tế và đúng vị trí diện tích đất được sử dụng.

 

Hợp đồng bị hủy là do lỗi hoàn toàn của ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy, nên ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy phải bồi thường thiệt hại cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh do lỗi của mình gây ra theo quy định tại Điều 137 của Bộ Luật dân sự. Xét thấy, giá trị quyền sử dụng đất theo Hội đồng định giá (Biên bản hợp Hội đồng định giá ngày 16/07/2012) thấp hơn giá mà án sơ thẩm buộc Ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy bồi thường, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh, cần buộc ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông LQ_Huy và bà LQ_Linh theo giá mà cấp sơ thẩm áp dụng trên diện tích 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) với số tiền 20.333.331 đồng.

Như đã nhận định, theo bà NĐ_Hà yêu cầu ông BĐ_Hữu và bà BĐ_Vy tiếp tục thực hiện hợp đồng và yêu cầu ông LQ_Huy, bà LQ_Linh, ông LQ_Cường và bà LQ_Hồng phải có nghĩa vụ lấp lại các lỗ đã đào và tháo dỡ công trình đã xây dựng trên diện tích đất tranh chấp 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) như hiện trạng ban đầu để trả lại đất tranh chấp làm lối đi chung là có căn cứ nên được chấp nhận.

Tại phiên tòa hôm nay bà NĐ_Hà tự nguyện để diện tích đất tranh chấp 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) để sử dụng làm lối đi chung, không ai có quyền xây dựng hoặc sử dụng riêng và đây cũng ngay cửa ra vào của nhà bà Hương (con bà NĐ_Hà) và nhà ông LQ_Huy và bà LQ_Linh, sự tự nguyện của bà NĐ_Hà là không trái pháp luật và đạo đức xã hội, đều có lợi cho các bên và không ảnh hưởng hoặc gây thiệt hại cho người khác, nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà NĐ_Phương Hồng Hà và buộc ông LQ_Huy, bà LQ_Linh, ông LQ_Cường và bà LQ_Hồng phải có nghĩa vụ lấp lại các lỗ đã đào và tháo dỡ công trình đã xây dựng trên đất (bậc tam cấp, có 2 cấp ngang 0,6m, dài 2,5m) để trả lại hiện trạng ban đầu và trả diện tích đất tranh chấp 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) để sử dụng làm lối đi chung, không ai được xây dựng trên diện tích đất này hoặc sử dụng riêng .

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát là trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người tiến hành tố tụng khác đã tuân thủ đúng pháp luật, cũng như các đương sự và những người tham gia tố tụng khác đã chấp hành đúng pháp luật và đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự. Đồng thời, nhận xét về nội dung kháng cáo của người kháng cáo và đề xuất Hội đồng xét xử bác đơn kháng cáo và áp dụng Khoản 2 Điều 275 của Bộ Luật tố tụng dân sự sửa Bản án sơ thẩm theo hướng sửa phần án phí.

Do Bản án sơ thẩm bị sửa, nên người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điêu 132 của Bộ Luật tố tụng dân sự và Khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Án phí sơ thẩm điều chỉnh lại cho đúng theo quy định.

  các lẽ trên;

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 275, Điều 276, Khoản 6 Điều 279 và Khoản 2 Điều 132 của Bộ Luật tố tụng dân sự; Áp dụng Khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

 

QUYẾT ĐỊNH:

-        Chấp nhận toàn bộ nội dung kháng cáo của bà NĐ_Phương Hồng Hà và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy.

-        Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2013/DS-ST ngày 09/01/2013 của Tòa án nhân dân thành phố ST đã xét xử về việc “Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”, giữa: Nguyên đơn bà NĐ_Phương Hồng Hà với bị đơn BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy, như sau:

+ Công nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy với bà NĐ_Phương Hồng Hà xác lập ngày 21/07/2003. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy với ông LQ_Trần Văn Huy và bà LQ_Tạ Linh xác lập ngày 29/08/2011 vô hiệu một phần trên diện tích đất tranh chấp 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m).

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà NĐ_Phương Hồng Hà về việc yêu cầu bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan giao trả lại phần đất có diện tích 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) nằm trong thửa đất số 25, tờ bản đồ số 36, tọa lạc tại khóm 3, phường 6, thị xã ST (nay là thành phố ST), tỉnh ST để đưa vào sử dụng làm lối đi chung.

+ Ghi nhận sự tự nguyện của bà NĐ_Phương Hồng Hà để diện tích đất tranh chấp 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) sử dụng làm lối đi chung, không ai được xây dựng trên diện tích đất này hoặc sử dụng riêng. Buộc ông LQ_Trần Văn Huy, bà LQ_Tạ Linh, ông LQ_Trần Chí Cường và bà LQ_Nguyễn Thị Thanh Hồng cũng có nghĩa vụ lấp lại các lỗ đã đào và tháo dỡ công trình đã xây dựng trên đất (bậc tam cấp, có 2 cấp ngang 0,6m, dài 2,5m) để trả lại hiện trang ban đầu và trả diện tích đất tranh chấp 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) để sử dụng làm lối đi chung, không ai được xây dựng trên diện tích đất này hoặc sử dụng riêng. Vị trí đất có tứ cạnh như sau:

Hướng đông: giáp hẻm 94 có số đo 6,1 m;

Hướng tây: giáp đất ông LQ_Huy và bà LQ_Linh số đo 6,1 m;

             Hướng nam: giáp đất bà Hương có số đo 1,5m (đo từ mí tường nhà trệt của ông LQ_Huy trở ra hẻm);

             Hướng bắc: giáp đất bà Thái Ên có số đo 1,5m (đo từ mí tường nhà trệt của ông LQ_Huy trở ra hẻm);

+ Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố ST điều chỉnh lại diện tích đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD 268206 ngày 22 tháng 9 năm 2005 cấp cho ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy và đã điều chỉnh lại cho ông LQ_Trần Văn Huy và bà LQ_Tạ Linh (tháng 10/2011) cho đúng thực tế và đúng vị trí diện tích đất được sử dụng.

+ Buộc ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy trả lại giá trị quyền sử dụng đất cho ông LQ_Trần Văn Huy và bà LQ_Tạ Linh trên diện tích 9,15m2 (ngang 1,5m, dài 6,1m) với số tiền 20.333.331 đồng.

+ Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông BĐ_Thái Anh Hữu và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy cùng phải chịu án phí sơ thẩm là 1.016.666 đồng; Hoàn trả cho bà NĐ_Phương Hồng Hà tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 900.000 đồng theo biên lai thu số 005494 ngày 18/06/2012 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố ST. Chi phí thẩm định và định giá tài sản ông BĐ_Thái Anh Hữu BĐ_Ong Thị Cuối Vy cùng phải chịu án phí thẩm

1.000.000 đồng.

-        Án phí dân sự phúc thẩm: Bà NĐ_Phương Hồng Hà và bà BĐ_Ong Thị Cuối Vy không phải chịu; Hoàn trả cho bà NĐ_Hà và bà BĐ_Vy tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp mỗi người là 200.000 đồng theo biên lai thu số 007274 ngày 22/01/2013 và biên lai thu số 007290 ngày 30/01/2013 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố ST, tỉnh ST.

Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.



Chat Zalo: 0902198579

Copyright © 2019 OPIC LAW All Right Reserved