NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TB – THÀNH PHỐ HCM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Phạm Thị Thanh H
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Minh T
2/ Ông Nguyễn Thành L
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Tiến Q - Cán bộ Tòa án nhân dân quận TB, thành phố HCM.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận TB tham gia phiên Tòa: Bà Đỗ Thị Chung T - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 21 tháng 8 năm 2015 tại Tòa án nhân dân quận TB xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 193/2012/TLST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2012 về việc “Tranh chấp lối đi chung” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2015/QĐST-DS ngày 19 tháng 8 năm 2015 giữa các đương sự:
Nguyên đơn:
Bà NĐ_Trương Thị Hậu – sinh năm 1956
Địa chỉ: 32 C NQ, phường 6, Quận X, Thành phố HCM Đại diện ủy quyền:
1/ Bà Lê Thị Thu Hường – sinh năm 1984
Theo văn bản ủy quyền ngày 03/7/2012, hủy bỏ ủy quyền ngày 011/11/2012 2/ Ông Lê Văn Nghe – sinh năm 1979 (có mặt)
Địa chỉ: 16 NCT, phường 16, Quận 11, Thành phố HCM Theo văn bản ủy quyền ngày 01/11/2012
Bị đơn:
Ông BĐ_Nguyễn Ngọc Long – sinh năm 1931
Địa chỉ: 654/4 LLQ, phường 9, quận TB, Thành phố HCM Người đại diện theo ủy quyền:
Bà LQ_Nguyễn Thị Thu Dương - sinh năm 1971 (có mặt)
Theo văn bản ủy quyền ngày 14/9/2012
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn: Luật gia NĐL – Hội viên hội luật gia quận TP, thuộc Hội luật gia Thành phố HCM.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà LQ_Nguyễn Thị Thu Duyên – sinh năm 1965
Bà LQ_Nguyễn Thị Thu Thanh - sinh năm 1967
Bà LQ_Nguyễn Thị Thu Châu – sinh năm 1969
Bà LQ_Nguyễn Thị Thu Dương – sinh năm 1971 (có mặt)
Ông LQ_Nguyễn Đoàn Phúc – sinh năm 1980
Ông LQ_Nguyễn Đoàn Tâm – sinh năm 1986 (có đơn xin vắng mặt) Cùng địa chỉ: số 654/4 LLQ, phường 9, quận TB, Thành phố HCM
Người đại diện theo ủy quyền của bà LQ_Duyên, bà LQ_Thanh, bà LQ_Châu, ông LQ_Phúc:
Bà LQ_Nguyễn Thị Thu Dương - sinh năm 1971 Theo văn bản ủy quyền ngày 14/9/2012
Bà LQ_Lê Thị Mai – sinh năm 1930 (có mặt) Địa chỉ: xã PV, huyện CĐ, tỉnh LA
Ông LQ_Lê Văn Dư – sinh năm 1962 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: 250/25 đường VL, phường PTH, quận TP, Thành phố HCM
Ông LQ_Lê Hữu Trọng – sinh năm 1974 (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: 15/1 LLQ, phường 9, quận TB, Thành phố HCM
Bà LQ_Lê Thị Thu Tùng – sinh năm 1967 (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: 15/1 LLQ, phường 9, quận TB, Thành phố HCM
Bà LQ_Lê Thị Thu Nhiên – sinh năm 1972 (có đơn xin vắng mặt) Địa chỉ: 107 NQ, phường 11, Quận X, Thành phố HCM
LQ_Ủy ban nhân dân quận TB
Địa chỉ: 387A TC, phường 14, quận TB, Thành phố HCM
Đại diện ủy quyền: Ông Đặng Thanh Bình – Phĩ trưởng Phòng Quản lý đô thị quận TB (có đơn xin vắng mặt)
Theo văn bản ủy quyền ngày 28/01/2015
Người làm chứng:
Bà Phan Thị Nghệ – sinh năm 1937 (vắng mặt ) Địa chỉ: Xã PV, huyện CĐ, Tỉnh LA
Ông Phạm Long Cứ – sinh năm 1957 (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp 2, Xã PV, huyện CĐ, Tỉnh LA.
NHẬN THẤY:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/6/2012, đơn thay đổi nội dung khởi kiện ngày 15/6/2015 của nguyên đơn bà NĐ_Trương Thị Hậu và lời trình bày của ông Lê Văn Nghe đại diện theo
ủy quyền thì: Trước đây bà LQ_Lê Thị Mai có thuê nhà của bà Trần Thị Bảy là chủ sở hữu căn nhà số 15/1 (nay mang số 654/4A ) LLQ, phường 9, quận TB, đến năm 1962 bà Bảy bán lại căn nhà này cho bà LQ_Mai. Căn nhà 15/2 (nay mang số 654/4) LLQ, phường 9, quận TB của bà Phan Thị Nghệ bán lại cho bà Đoàn Thị Đại, năm 2006 bà Đoàn Thị Đại chết, bà Đại có chồng là ông BĐ_Nguyễn Ngọc Long.
Vào năm 1993 bà Đại đăng ký đo vẽ và khai với cán bộ đo vẽ phần ranh đất là lối đi riêng của gia đình ông Lợi, do vậy, ngày 20/01/1993 LQ_Ủy ban nhân dân quận TB cấp giấy hợp thức hóa quyền sở hữu nhà cho gia đình bà Đại, giấy phép số 609/GP-UB với diện tích sử dụng 66,88m2, diện tích xây dựng 38,96m2 theo bản vẽ hiện trạng số 49/ĐRHT ngày 03/1/1993 do xưởng thiết kế quận TB cấp.
Theo bản vẽ hiện trạng nêu trên phần diện tích 19,34m2 là lối đi chung của căn nhà 15/1 LLQ, phường 9, quận TB và nhà 15/2 LLQ, phường 9, quận TB đã có từ năm 1962, nhưng ông Lợi cho rằng phần diện tích lối đi chung này là sân và nhà vệ sinh riêng của ông Lợi, và Bà NĐ_Hậu phải xin phép mới được đi nhờ.
Đầu năm 2010 bà NĐ_Hậu lm thủ tục hợp thức hóa nhà 15/1 LLQ, phường 9, quận TB thì mới phát hiện ông Lợi đã kê khai vào bản vẽ số 49 và thực tế nhà ông Lợi đã sử dụng làm lối đi riêng. Nay ông đại diện bà NĐ_Hậu yêu cầu gia đình ông Lợi trả phần lối đi chung của hai căn nhà, tháo mái che chắn bếp, sàn nước hiện nay đang cản trở lối đi chung.
Tại bản tự khai ngày 27/7/2012 Bị đơn - ông BĐ_Nguyễn Ngọc Long trình bày: Vợ ông là Đoàn Thị Đại, vợ chồng ông có 6 người con là: LQ_Nguyễn Thị Thu Duyên, LQ_Nguyễn Thị Thu Thanh, LQ_Nguyễn Thị Thu Châu, LQ_Nguyễn Thị Thu Dương, LQ_Nguyễn Đoàn Phúc, LQ_Nguyễn Đoàn Tâm.
Căn nhà mà gia đình ông đang ở được mua từ năm 1969 của bà Phan Thị Nghệ và đã được UBND quận TB hợp thức hóa vào ngày 20/01/2993. Năm 1970 ông tự xây cất và để cho phù hợp với sinh hoạt gia đình, ông có tách một phần đất của nhà để làm lối đi, gánh nước giếng từ nhà hàng xóm về sử dụng, làm sàn nước, nhà bếp vì thực tế lúc bấy giờ còn dùng nước giếng chung của lối xóm và sử dụng bếp củi. Do vậy, để tránh khói và ướt nhà nên gia đình ông đã bố trí riêng biệt, cùng với 2 nhà vệ sinh, tất cả đều nằm trên phấn đất thuộc chủ quyền của gia đình ông và đã sử dụng 42 năm nay.
Lối đi hiện nay của gia đình bà NĐ_Hậu đang đi nhờ nằm trong phần đất của gia đình ông. Việc tranh chấp lối đi chung của bà NĐ_Hậu 02 năm nay đã không được gia đình ông chấp nhận, cơ quan chức năng đã hòa giải nhiều lần.
Gia đình ông chỉ chấp nhận những người có tên trong hộ khẩu thường trú của gia đình bà NĐ_Hậu được phép qua lại bằng lối đi này ngoài ra không chấp nhận những người khác vì gia đình bà NĐ_Hậu cho thợ ở thuê hoặc cho thuê phòng trọ rất phức tạp, không có giờ giấc, rất khó kiểm soát, mất an ninh trật tự.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà LQ_Nguyễn Thị Thu Duyên, LQ_Nguyễn Thị Thu Thanh, LQ_Nguyễn Thị Thu Châu, LQ_Nguyễn Thị Thu Dương, LQ_Nguyễn Đoàn Phúc do bà LQ_Dương đại diện cũng cùng chung ý kiến với ông Lợi.
Ông LQ_Nguyễn Đoàn Tâm cũng cùng chung ý kiến với ông Lợi.
Bà LQ_Lê Thị Mai trình bày: Chồng bà là Trương Văn Võ, năm 1962 bà được bà Bảy Thừa là chủ đất cho một cái vũng, bà lấp đất thành nền rồi mua cây, tole về dụng lên thành
nhà, hiện mang số 654/4A LLQ, phường 9, quận TB. Năm 1970 bà xây nhà vệ sinh lên để gia đình bà và gia đình ông Lợi – bà Đại sử dụng chung với bà Đại là em gái bà.
Năm 1978 bà về quê CĐ – LA ở nên để căn nhà này cho con gái là NĐ_Trương Thị Hậu ở và quản lý. Năm 1987 bà NĐ_Hậu xây nhà lại nên có đập một phần nhà bếp cho sân rộng ra và có chỗ để may hàng xuất khẩu, năm 1989 do mở rộng sản xuất nên bà NĐ_Hậu đời đi nơi khác để nhà lại cho em và cháu ở.
Năm 1993 bà Đại âm thầm làm hợp thức hóa chủ quyền nhà, chiếm luôn phần diện tích sân và lối đi của gia đình bà nhưng gia đình bà không biết.
Năm 2008 bà đi làm thủ tục hợp thức hóa chủ quyền nhà 654/4A thì UBND quận TB không chấp thuận với lý do nhà không có lối đi.
Nay bà cùng chung ý kiến với bà NĐ_Hậu là yêu cầu gia đình ông Lợi phải tháo dỡ mái che bếp, trả lại lối đi chung của hai nhà.
Ông LQ_Lê Văn Dư, LQ_Lê Hữu Trọng, LQ_Lê Thị Thu Tùng, LQ_Lê Thị Thu Nhiên trình bày: Các ông, bà là con của bà LQ_Mai, cha là Trương Văn Võ đã chết từ năm 2007. Sau năm 1975 do cha mẹ về quê sinh sống nên cho bà NĐ_Hậu căn nhà 15/1 (nay mang số 654/4A) LLQ, phường 9, quận TB. Bà NĐ_Hậu đã sửa chữa lại có hiện trạng như hiện nay. Nay các ông, bà không có tranh chấp gì với bà NĐ_Hậu.
Ông Đặng Thanh Bình – đại diện ủy quyền của LQ_Ủy ban nhân dân quận TB trình bày: Căn nhà 15/2 (số mới 654/4) LLQ, phường 9, quận Tân Binh do bà Đoàn Thị Đại là chủ sở hữu theo giấy phép hợp thức hóa quyền sở hữu nhà số 609/GP-UB ngày 20/01/1993 của LQ_Ủy ban nhân dân quận TB với diện tích xây dựng trệt + gác gỗ ) chưa công nhận phần diện tích khuôn viên đất (trong đó bao gồm diện tích sân bên hông và phía sau nhà 15/2 LLQ, phường 9, quận TB.
Căn nhà 15/1 (số mới 654/4A) LLQ, phường 9, quận TB thì theo kê khai nhà đất năm 1977, bà NĐ_Trương Thị Hậu kê khai với diện tích đất 58,4m2 diện tích sử dụng chung. Theo kê khai năm 1999 ông LQ_Lê Hữu Trọng khai chủ sở hữu nhà của bà NĐ_Trương Thị Hậu và ông Bùi Quang Mỹ, diện tích sử dụng riêng 84,6m2, diện tích sử dụng chung 9m2 .
Qua kiểm tra hiện trạng thực tế, căn nhà 15/1 LLQ, phường 9, quận TB có lối đi duy nhất qua lối đi bên hông nhà 15/2 đã làm mái che và sử dụng làm bếp (thay đổi hiện trạng nhà so với thời điểm cập nhật làm bản vẽ và hợp thức hóa nhà năm 1993), đồng thời qua kiểm tra giấy phép số 609/GP-UB ngày 20/01/1993 của LQ_Ủy ban nhân dân quận TB đối với căn nhà 15/2 LLQ, phường 9, quận TB chỉ công nhận diện tích xây dựng trệt 38/96m2, gồm nhà chính và công trình phụ phía sau nhà diện tích 1,2m x 1,7m và diện tích sử dụng là 66,88m2 gồm diện tích xây dựng trệt và gác gỗ, chưa công nhận diện tích sân bên hông và phía sau nhà 15/2 LLQ. Thực tế 02 hộ đang sử dụng chung phần diện tích này.
Từ những cơ sở nêu trên, LQ_Ủy ban nhân dân quận TB có ý kiến: giữ nguyên hiện trạng phần đất chung, đất bên hông và phía sau nhà 15/2 LLQ để cho 02 nhà 15/2 và 15/1 LLQ cùng sử dụng chung, không phải diện tích sử dụng riêng của nhà 15/2 LLQ, phường 9, quận TB.
Người làm chứng, bà Phan Thị Nghệ trình bày:
Căn nhà mà hiện giờ gia đình ông Lợi đang ở là do bà bán lại cho vợ chồng ông Lợi – bà Đại vì lúc này vợ chồng ông Lợi mới cưới không có chỗ ở, bà Đại là em chồng của bà. Tình trạng nhà lúc bán cho vợ chồng ông Lợi là một cái chái, ngang khoảng 3m, dài khoảng 8m, nhà không có cửa sau và cửa hông, chỉ có cửa chính nhìn ra lộ, lúc này căn nhà của gia đình bà NĐ_Hậu đã có và đang xây cất. Gia đình bà NĐ_Hậu sử dụng lối đi bên hông phải nhà mà bà đã bán cho vợ chồng ông Lợi.
Ông Phạm Long Cứ trình bày: Vào năm 1970 ông có cùng ông Trương Văn Võ xây nhà vệ sinh, nhà tắm trên phần đất của ông Trương Văn Võ vì lúc này ông và ông Võ cùng làm chung thợ hồ.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên Tòa: Ông Bình đại diện UBND quận TB, ông LQ_Dư, ông Trương, bà LQ_Tùng, bà Nhung vắng mặt.
Ông Lê Văn Nghe đại diện nguyên đơn trình bày: Ông đại diện nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử xác định phần đất đi vào nhà số 654/4A LLQ của gia đình bà NĐ_Hậu, có diện tích 15,52m2 là lối đi chung của hai hộ 654/4 và 654/4A LLQ, phường 9, quận TB. Yêu cầu gia đình ông Lợi phải tháo dỡ mái che chắn làm nhà bếp, sàn nước trên phần lối đi chung để trả lại lối đi thông thoáng cho cả hai nhà.
Trước đây nguyên đơn khởi kiện cho rằng phần đất này là của gia đình nguyên đơn, tuy nhiên quá trình giải quyết đã lâu muốn kết thúc vụ án nên trong quá trình hòa giải nguyên đơn có thay đổi yêu cầu xác định là lối đi chung của hai hộ.
Chứng cứ để chứng minh yêu cầu của nguyên đơn:
Lối đi này là lối đi duy nhất mà gia đình bà NĐ_Hậu đã sử dụng từ khi tạo lập nên căn mà 654/4A (số cũ 15/1), ngoài lối này gia đình bà NĐ_Hậu không còn lối đi nào khác để ra vào nhà mình, khi gia đình ông Lợi - bà Đại tiến hành xin hợp thức hóa chủ quyền nhà đã tự ý hướng dẫn cho cán bộ đo vẽ để xác định phần lối đi chung là sân riêng của gia đình mình.
Đại diện LQ_Ủy ban nhân dân quận TB cũng đã xác định phần đất mà nguyên đơn đang tranh chấp với bị đơn là lối đi chung của 02 nhà 15/1 và 15/2 LLQ chứ không phải thuộc quyền sử dụng riêng của hộ 15/2.
Luật gia NĐL – bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày những ý kiến của bị đơn đối với yêu càu của nguyên đơn:
Những chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án không có liên quan gì đến vụ án.
Phần diện tích mà nguyên đơn đang tranh chấp đã được nhà nước công nhận trong Giấy chủ quyền nhà năm 1993 cấp cho gia đình ông Lợi.
Bà LQ_Dương trình bày ý kiến: Phần diện tích sân này gia đình bà đã đóng thuế trước bạ nên đã được nhà nước bảo hộ dù chưa được nhà nước công nhận trong chủ quyền nhà, từ trước đến giờ gia đình bà NĐ_Hậu vẫn ra vào bằng lối đi này do gia đình bà cho đi nhờ nhưng đất thì vẫn thuộc quyền sử dụng của gia đình bà. Gia đình bà chỉ đồng ý cho những người trong gia đình bà NĐ_Hậu ra vào bằng lối đi này, còn những người ở thuê thì không đồng ý cho đi.
Bà LQ_Mai trình bày: Phần lối đi này gia đình bà dã sử dụng từ khi cất nhà lên ở, khi gia đình bà về quê thì gia đình bà Đại lấn chiếm từ từ thành nhà bếp như hiện nay.
Luật gia NĐL phát biểu ý kiến:
Nguyên đơn khởi kiện là không có căn cứ pháp luật, không có chứng cứ gì để chứng minh phần đất đang tranh chấp là của gia đình bà NĐ_Hậu hay của gia đình ông Lợi.
Do gia đình ông Lợi không hợp thức hóa được chủ quyền nhà được nên mới khởi kiện. Chủ quyền nhà năm 1993 của gia đình ông Lợi không ghi rõ phần diện tích sân nhưng tại bản vẽ khi là thủ tục hợp thức hóa nhà đã thể hiện có phần diện tích sân 15,52m2 và gia đình ông Lợi đã đóng thuế trước bạ nên thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Lợi dù chưa được công nhận trong Giấy chủ quyền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận TB phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên Tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã làm đúng và đầy đủ thủ tục theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, kể từ ngày thụ lý đến lúc xét xữ là đã quá hạn.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Ông Bình, ông Trương, ông LQ_Dư, bà LQ_Tùng, bà Nhung có đơn yêu cầu vắng mặt, căn cứ Khoản 1 Điều 202 Bộ luật Tố tụng Dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nói trên.
Xét yêu cầu của bà NĐ_Hậu yêu cầu Tòa án xác định phần đất đi vào nhà của gia đình bà – số 654/4A LLQ có diện tích 15,52m2 là lối đi chung của hai hộ 654/4 và 654/4A LLQ, đồng thời yêu cầu gia đình ông Lợi phải tháo dỡ toàn bộ mái che làm nhà bếp trên phần đất này để trả lại lối đi thông thoáng cho hai nhà, HĐXX xét thấy:
Căn cứ Giấy phép hợp thức hóa quyền sở hữu nhà số 609/GP-UB ngày 20/01/1993 do UBND quận TB cấp cho bà Đoàn Thị Đại đối với căn nhà số 15/2 LLQ, phường 9, quận TB thì nhà số 15/2 có diện tích sử dụng: 66,88m2; diện tích xây dựng: 38,98m2 và bản vẽ hiện trạng ngày 03/01/1993 của nhà 15/2 có ghi phần diện tích sân: (60,58 ) – (38,96 + 2,55 + 3,55) = 15,52m2.
Theo lời trình bày của nguyên đơn thì phần diện tích đất này là lối đi duy nhất vào nhà của nguyên đơn – 15/1 LLQ, là lối đi chung của hai hộ 15/1 và 15/2 chứ không phải phần sân của hộ 15/2. Đại diện bị đơn cũng thừa nhận từ trước đến nay hộ 15/1 chỉ có một lối đi duy nhất trên phần diện tích đất này nhưng do gia đình bị đơn cho đi nhờ chứ không phải lối đi chung.
Tuy nhiên, theo lời trình bày của ông Bình đại diện LQ_Ủy ban nhân dân quận TB thì LQ_Ủy ban nhân dân quận TB đã xác định phần sân bên hông và phía sau nhà 15/2 LLQ là lối đi chung của hai nhà 15/1 và 15/2 LLQ chứ không diện tích sử dụng riêng của nhà 15/2 LLQ.
Như vậy, phần diện tích đất 15,52m2 mà bị đơn cho rằng đó là phần sân riêng của nhà 15/2 đã được nhà nước công nhận và bảo hộ là không có cơ sở để chấp nhận, HĐXX đã có đủ cơ sở xác định phần đất bên hông và phía sau nhà 15/2 LLQ, phường 9, quận TB có diện tích 15,52m2 là sân chung của 02 nhà 15/1 và 15/2 LLQ, phường 9, quận TB.
Về chi phí định giá: Là 2.000.000đ bà NĐ_Trương Thị Hậu chịu và đã nộp xong.
Về án phí: Áp dụng Khoản 1 Điều 7 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án và Điểm a Khoản
2 Mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo pháp lệnh số
10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009) ông Lợi phải nộp 200.000đ án phí sơ thẩm dân sự; hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho bà NĐ_Trương Thị Hậu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 25; Khoản 1 Điều 245; Khoản 1 Điều 252; Điểm b Khoản 2 Điều 199 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004;
Căn cứ Điều 255, 256 Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ Điều 2, 6, 7, 9, 26, 30, 31, 32 của Luật thi hành án dân sự năm 2008;
Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 24; Khoản 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Điểm b, Khoản 2 Mục I Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009).
1/ Chấp nhận yêu cầu của bà NĐ_Trương Thị Hậu.
a/ Xác định phần đất bên hông và phía sau nhà 654/4 (số cũ 15/2) LLQ, phường 9, quận TB có diện tích 15,52m2 là lối đi chung của hai nhà 654/4 và 654/4A (số cũ 15/1) LLQ, phường 9, quận TB.
b/ Gia đình ông BĐ_Nguyễn Ngọc Long có trách nhiệm tháo đỡ toàn bộ sàn nước và phần mái che chắn làm nhà bếp trên phần đất này để trả lại lối đi thông thoáng cho cả 02 nhà.
c/ Chi phí định giá là 2.000.000đ do bà NĐ_Hậu chịu và đã nộp xong.
2/ Án phí DSST: Ông BĐ_Nguyễn Ngọc Long phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng), hoàn lại bà NĐ_Trương Thị Hậu 475.000đ (Bốn trăm bảy mươi lăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 00578 ngày 04/7/2012 của Chi cục Thi hành án dân sự quận TB.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản sao án hoặc bản sao án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và Viện Kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Copyright © 2019 OPIC LAW All Right Reserved
Những điểm mới trong luật tạm giữ, tạm giam
Tháng Ba 22, 2019