Skip to main content

Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X THÀNH PHỐ HCM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc




Bản án số: 254/2015/DS-ST Ngày: 07 tháng 7 năm 2015.

V/v: “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố

hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”




NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN X, THÀNH PHỐ HCM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:


Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 1. Ông Phan Thanh H

Các Hội thẩm nhân dân: 2. Ông Đỗ Văn V

3. Bà Trần Thị P

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Hồ Thị N – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố HCM.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận X, Thành phố HCM tham gia phiên tòa: Đặng Thị Tuyết M – Kiểm sát viên.


Trong ngày 01/7/2015 và tuyên án ngày 07/7/2015, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố HCM, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 467/2014/TLST-DS ngày 29/10/2014, về “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2015/QĐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2015 giữa các đương sự:






mặt).

Nguyên đơn:

NĐ_Trần Bích Thùy - Sinh năm 1972;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 9, ấp PB, xã AP, huyện CC, Thành phố HCM; (có


Bị đơn:

BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu;

Địa chỉ trụ sở chính: 75 Đường LTR, phường TA, Quận X, Thành phố HCM;


Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Ông LQ_Võ Văn Nam - Sinh năm 1973;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ 9, ấp PB, xã AP, huyện CC, Thành phố HCM; (có


2/ Ông LQ_Nguyễn Hùng - Sinh năm 1956; (có mặt);

3/ Bà LQ_Trần Thị Thanh - Sinh năm 1956; (vắng mặt);

Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú: 356B Đường PVT, Phường 11, quận BT, Thành phố


4/ Ông LQ_Thái Văn Thắng - Sinh năm 1964; (có mặt);

5/ Bà LQ_Nguyễn Thị Bích Hồng - Sinh năm 1978; (có mặt);

Cùng đăng ký hộ khẩu thường trú: 22/7A ấp ĐL, xã BĐ, huyện HM, Thành phố HCM.


NHẬN THẤY:

Trong đơn khởi kiện ngày 13/10/2014; biên bản ghi lời khai ngày 05/6/2015 thì nguyên đơn – bà NĐ_Trần Bích Thùy trình bày:

Bà và ông LQ_Võ Văn Nam sống chung với nhau từ năm 2006, tuy nhiên đến đầu năm 2007 mới đăng ký kết hôn (Theo Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã Nhuận Đức, huyện CC, Thành phố HCM cấp ngày 07/02/2007; Số 20; Quyển số 01/2007). Hai vợ chồng có với nhau một người con chung tên là Võ Trần Thảo My (sinh ngày 13/6/2007). Hiện tại bà và ông LQ_Nam đang ly thân với nhau nhưng vẫn sống tại Tổ 9, ấp PB, xã AP, huyện CC, Thành phố HCM. Bà cùng con gái sống tại căn nhà do vợ chồng bà cùng nhau xây dựng trên phần đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất do Ủy ban nhân dân huyện CC, Thành phố HCM cấp ngày 17/7/2012 (Số phát hành: BL 206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443), còn ông LQ_Nam sống tại nhà mẹ ruột gần ở đó.

Nguyên phần đất nêu trên có nguồn gốc là tài sản của cha mẹ chồng. Cha mẹ đã cho chồng bằng miệng khi đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi cha chồng chết, bà và ông LQ_Võ Văn Nam sống chung và đăng ký kết hôn ngày 07/02/2007. Ngay sau khi sống chung với nhau, vợ chồng bà đã tiến hành làm một căn nhà trên đất để ở cho đến nay. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn xây dựng Thương mại Đo đạc và Bản đồ Phú Gia Thịnh lập ngày 09/6/2014 (Số hợp đồng 1382/HĐ-PGT/2014) thì căn nhà của vợ chồng bà có tổng diện tích là 79,5m2 có cấu trúc tường tole, mái tole, sân bê tông. Bà lập bản vẽ này khi có ý định ly hôn với chồng vào năm 2014.

Ngày 31/10/2007, Ủy ban nhân dân huyện CC cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất mang tên chủ sử dụng đất là ông LQ_Võ Văn Nam. Theo giấy chứng nhận thì phần đất có diện tích là 1.593m2 (thuộc thửa đất số 18; tờ bản đồ số 15; có 31,5m2 đất ở tại nông thôn và 1.561m2 là đất trồng cây lâu năm) tọa tại xã AP, huyện CC, Thành phố HCM.

Đến khoảng năm 2012, anh ruột của chồng là người có phần đất tiếp giáp liền kề với phần đất của vợ chồng bà, có thỏa thuận mua lại của vợ chồng bà một phần đất có chiều ngang khoảng 3 mét, với tổng diện tích là 236m2 . Vợ chồng bà đã tiến hành thủ tục tách thửa phần đất đã bán cho anh chồng nên phần đất còn lại là 1.357m2 .

Đến ngày 17/7/2012, Ủy ban nhân dân huyện CC, Thành phố HCM cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Số phát hành: BL 206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443). Theo giấy này thì tổng diện tích đất là 1.357m2 (thuộc thửa đất số 18; Tờ bản đồ số 15; có 31,5m2 đất ở tại nông thôn và 1.325,5m2 là đất trồng cây lâu năm).

Trước đó, vào ngày 04/02/2012, vợ chồng bà đã đồng ý cắt bớt một phần đất có chiều ngang khoảng 6 mét để bán cho vợ chồng ông LQ_Thái Văn Thắng - bà LQ_Nguyễn Thị Bích Hồng với giá 62.500.000 (sáu mươi hai triệu năm trăm ngàn) đồng. Hai bên đã giao nhận tiền và giao nhận đất xong. Ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng đã rào đất và trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này từ đó cho đến nay. Tuy nhiên, khi tiến hành giấy tờ thì Ủy ban nhân dân huyện CC đã không đồng ý cho phép tách thửa, do vậy, hiện phần đất đã bán cho vợ chồng ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng vẫn thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Số phát hành: BL 206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443) nêu trên. Vợ chồng bà và vợ chồng ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng hoàn toàn không có gì tranh chấp với nhau. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Chi nhánh Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đo đạc San lấp mặt bằng Đất Thép lập ngày 03/02/2012 (Số hợp đồng 013-12/ĐĐBĐ-ĐT/CC) thì phần đất ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng mua của vợ chồng bà có diện tích là 479,6m2 . Ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng lập bản đồ này khi tiến hành hồ sơ xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 2012.

Sau khoảng thời gian này, vợ chồng bà phát sinh mâu thuẫn, bà đưa con bỏ đi nơi khác sống, chồng của bà ở lại nhà một mình. Sau đó, bà có nghe hàng xóm báo lại là chồng của bà có ý định bán nhà và đất nên bà lập tức đưa con về nhà sinh sống cho đến nay. Ngay sau khi biết chồng bán nhà và đất mà không có ý kiến của bà, bà đã khiếu nại ở nhiều nơi rồi sau đó quay về khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận X cho đến nay.

Vào ngày 12/7/2013, ông LQ_Võ Văn Nam đã tự ý ký kết kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) với ông LQ_Nguyễn Hùng tại BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu đối với toàn bộ phần đất có diện tích 1.357m2 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Số phát hành: BL 206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443) do Ủy ban nhân dân huyện CC cấp ngày 17/7/2012, trong đó có cả phần đất mà vợ chồng bà đã bán cho vợ chồng ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng, cũng như có cả phần căn nhà mà hiện bà và con gái đang ở.

Nay, bà NĐ_Trần Bích Thùy yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) do ông LQ_Võ Văn Nam và ông LQ_Nguyễn Hùng lập tại BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu vào ngày 12/7/2013 (Số công chứng: 004286; Quyển số: 04TP/CC-SCC/HĐGD; Công chứng viên: Bùi Đức Cát) vô hiệu. Riêng việc xử lý hậu quả bà không yêu cầu Tòa án giải quyết. Theo bà, việc công chứng hợp đồng của BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu là hoàn toàn không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà và vợ chồng ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng.


Tại văn bản số 11/CV-CCNR ngày 07/4/2015, BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu có ý kiến như sau:

Vào ngày 12/7/2013, ông LQ_Võ Văn Nam và ông LQ_Nguyễn Hùng có đến BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu để yêu cầu công chứng hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ quyền  sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) tại thửa đất số 18, tờ bản đồ số 15, địa chỉ: xã AP, huyện CC, Thành phố HCM. Do ông LQ_Nam không biết chữ nên có mời người làm chứng, Công chứng viên đã đọc lại toàn bộ nội dung hợp đồng, ông LQ_Nam đã hiểu rõ, đồng ý ký tên và điểm chỉ vào hợp đồng, không thắc mắc khiếu nại gì. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện CC cấp riêng cho ông LQ_Nam, nguồn gốc đất do mẹ ruột của ông LQ_Nam tặng cho riêng ông LQ_Nam là tài sản riêng của ông LQ_Nam (theo tờ tường trình nguồn gốc đất kèm theo).

Việc công chứng hợp đồng của Công chứng viên là có căn cứ, đúng theo quy định của pháp luật. Vì tính chất công việc, BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu không thể tham gia các buổi làm việc theo giấy mời của Tòa án, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.


Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/6/2015 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông LQ_Võ Văn Nam trình bày:

Ông thừa nhận, nội dung bà NĐ_Trần Bích Thùy trình bày về quá trình sống chung, việc đăng ký kết hôn, về con chung là đúng sự thật.

Nguyên cha mẹ của ông có cho ông một phần đất, khi cho chỉ nói miệng trong gia đình, khi đó đất chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi cha ông mất, ông lấy vợ là bà NĐ_Thùy. Ngay sau khi sống chung với nhau, vợ chồng ông đã tiến hành làm một căn nhà trên đất để ở cho đến nay. Đến ngày 31/10/2007, Ủy ban nhân dân huyện CC cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất cha mẹ cho mang tên ông - LQ_Võ Văn Nam. Theo giấy chứng nhận thì phần đất có diện tích là 1.593m2 (thuộc thửa đất số 18; Tờ bản đồ số 15; có 31,5m2 đất ở tại nông thôn và 1.561m2 là đất trồng cây lâu năm) tọa tại xã AP, huyện CC, Thành phố HCM. Đến khoảng năm 2012, vợ chồng ông đã đồng bán lại cho anh ruột một phần đất có chiều ngang khoảng 3 mét, với tổng diện tích là 236m2. Vợ chồng ông đã tiến hành xong thủ tục tách thửa phần đất đã bán cho anh, do vậy phần đất còn lại là 1.357m2 . Ngày 17/7/2012, ông được Ủy ban nhân dân huyện CC, Thành phố HCM cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Số phát hành: BL 206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443). Theo giấy này thì tổng diện tích đất là 1.357m2 (thuộc thửa đất số 18; Tờ bản đồ số 15; có 31,5m2 đất ở tại nông thôn và 1.325,5m2 là đất trồng cây lâu năm).

Trước đó, vào ngày 04/02/2012, vợ chồng ông đã đồng ý cắt bớt một phần đất có chiều ngang khoảng 6 mét để bán cho vợ chồng ông LQ_Thái Văn Thắng - bà LQ_Nguyễn Thị Bích Hồng với giá 62.500.000 (sáu mươi hai triệu năm trăm ngàn) đồng. Hai bên đã giao nhận tiền và giao nhận đất xong. Ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng đã rào đất và trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này từ đó cho đến nay. Tuy nhiên, khi tiến hành giấy tờ thì Ủy ban nhân dân huyện CC đã không đồng ý cho phép tách thửa, do vậy, hiện phần đất đã bán cho vợ chồng ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng vẫn thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Số phát hành: BL 206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443) nêu trên. Vợ chồng ông và vợ chồng ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng hoàn toàn không có gì tranh chấp với nhau. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Chi nhánh Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đo đạc San lấp mặt bằng

Đất Thép lập ngày 03/02/2012 (Số hợp đồng 013-12/ĐĐBĐ-ĐT/CC) thì phần đất ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng mua của vợ chồng chúng tôi có diện tích là 479,6m2 .

Sau khoảng thời gian này, vợ chồng ông có phát sinh mâu thuẫn, vợ của ông đưa con bỏ đi nơi khác sống, ông ở lại căn nhà một mình. Sau một thời gian thì vợ ông đưa con về lại nhà, còn ông sang nhà mẹ ruột gần đó sống cho đến nay. Trong thời gian vợ của ông đưa con đi sống nơi khác, do ông có mắc nợ người khác 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng và cầm bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Số phát hành: BL 206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443) do Ủy ban nhân dân huyện CC cấp vào ngày 31/10/2007, ông đã đồng ý cho phép người cầm giấy rao bán phần đất với giá 110.000.000 (một trăm mười triệu) đồng. Qua những người môi giới, ông có đến BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu để ký hợp đồng chuyển nhượng đất với ông LQ_Nguyễn Hùng. Sau khi ký xong, họ cấn trừ 35.000.000 (ba mươi lăm triệu) đồng và đưa cho ông 75.000.000 (bảy mươi lăm triệu) đồng còn lại. Ông nhận tiền của những người môi giới chứ hoàn toàn không hề nhận của ông LQ_Nguyễn Hùng bất kỳ đồng tiền nào. Sau này, ông không biết tại sao trong hợp đồng lại ghi nhận giá mua bán là 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng. Thực chất ông không rành chữ nghĩa, chỉ có thể ký họ và tên của mình. Toàn bộ bản chính các giấy tờ liên quan đến phần đất nêu trên hiện do ông LQ_Nguyễn Hùng đang giữ. Hiện tại ông không LQ_Thắng cung cấp được họ tên, địa chỉ của những môi giới.

Sau khi biết sự việc này, vợ của ông đã khiếu nại tại nhiều nơi rồi sau đó khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận X cho đến hôm nay.

Trong thời gian vừa qua, ông đã nhận thấy sai trái của mình, vì giận vợ con nên ông đã tự ý bán phần đất nêu trên. Nay, ông xác định hoàn toàn đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của vợ là bà NĐ_Trần Bích Thùy. Riêng việc xử lý hậu quả như thế nào ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.


Tại bản khai ngày 02/12/2014 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông LQ_Nguyễn Hùng trình bày:

Vào tháng 7/2013, ông có mua căn nhà và đất của ông LQ_Võ Văn Nam tại 34/6 Đường 802, Tổ 9, ấp PB, xã AP, huyện CC theo hợp đồng mua bán số 004286 ngày 12/7/2013 được BĐ_Phòng Công chứng Nhân Hậu chứng nhận.

Nhà và đất này của ông LQ_Võ Văn Nam đứng tên chủ sở hữu. Nguồn gốc nhà và đất được mẹ ông LQ_Nam cho riêng ông LQ_Nam vào năm 1991 (theo tờ trình nguồn gốc đất ngày 03/4/2007 của ông LQ_Nam được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất huyện CC xác nhận). Theo ông thì việc mua bán và công chứng hoàn toàn hợp pháp. Tại thời điểm mua bán, bà NĐ_Trần Bích Thùy là vợ ông LQ_Nam đã có hôn thú nhưng đây là tài sản riêng nên bà NĐ_Thùy không tham gia hợp đồng, bà NĐ_Thùy kết hôn sau khi tài sản được hình thành nên bà không có quyền lợi và nghĩa vụ đối với căn nhà và đất nêu trên. Bà NĐ_Thùy và ông LQ_Nam đã từng khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện CC, tại Tòa án nhân dân quận BT nhưng sau đó lại rút đơn về khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận X.

Nay, ông đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 05/6/2015 thì người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông LQ_Thái Văn Thắng, bà LQ_Nguyễn Thị Bích Hồng trình bày:

Vào ngày 04/02/2012, vợ chồng ông bà đã mua của vợ chồng ông LQ_Võ Văn Nam – bà NĐ_Trần Bích Thùy một phần đất có chiều ngang khoảng 6 mét, dài hết đất với giá 62.500.000 (sáu mươi hai triệu năm trăm ngàn) đồng. Hai bên đã giao nhận tiền và giao nhận đất xong. Ngay sau khi mua xong, vợ chồng ông bà đã rào đất và trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất này từ đó cho đến nay. Tuy nhiên, khi tiến hành giấy tờ thì Ủy ban nhân dân huyện CC đã không đồng ý cho phép tách thửa. Do vậy, hiện phần đất ông bà đã mua vẫn thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Số phát hành: BL 206220; Số vào sổ  cấp GCN: CH01443) mà Ủy ban nhân dân huyện CC cấp cho ông LQ_Võ Văn Nam vào ngày 17/7/2012. Vợ chồng ông bà và vợ chồng ông LQ_Nam – bà NĐ_Thùy không có gì tranh chấp với nhau. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Chi nhánh Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đo đạc San lấp mặt bằng Đất Thép lập ngày 03/02/2012 (Số hợp đồng 013-12/ĐĐBĐ-ĐT/CC) thì phần đất vợ chồng tôi mua của vợ chồng ông LQ_Nam – bà NĐ_Thùy có diện tích là 479,6m2 , vợ chồng ông bà lập bản đồ này khi tiến hành hồ sơ xin chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào năm 2012.

Nay, ông bà đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà NĐ_Trần Bích Thùy. Theo ông bà thì việc công chứng hợp đồng của BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng ông bà. Ông bà xác định rõ không có bất kỳ yêu cầu độc lập nào trong vụ án này.


Trong trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều triệu tập các đương sự tham gia các phiên hòa giải. Tuy nhiên, người đại diện hợp pháp của BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu và bà LQ_Trần Thị Thanh thường xuyên, liên tục vắng mặt không có lý do, nên việc hòa giải đã không thể tiến hành. Vụ án được đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.


Tại phiên tòa ngày 05/6/2015, người đại diện hợp pháp của BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông LQ_Nguyễn Hùng, bà LQ_Trần Thị Thanh vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do, nên Hội đồng xét xử đã phải quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 199, 208 Bộ luật Tố tụng Dân sự.


Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu, bà LQ_Trần Thị Thanh tiếp tục vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 199, 202 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Các ông bà NĐ_Trần Bích Thùy, LQ_Võ Văn Nam, LQ_Nguyễn Hùng, LQ_Thái Văn Thắng, LQ_Nguyễn Thị Bích Hồng có mặt và giữ nguyên các ý kiến, yêu cầu như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.


XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Các đương sự tranh chấp với nhau về việc yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) do ông LQ_Võ Văn Nam và ông LQ_Nguyễn Hùng lập tại BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu vào ngày 12/7/2013 (Số công chứng: 004286; Quyển số: 04TP/CC-SCC/HĐGD; Công chứng viên: Bùi Đức Cát) vô hiệu. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về yêu cầu tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu”. BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu có trụ sở tại địa chỉ: 75 Đường LTR, phường TA, Quận X, Thành phố HCM.

Theo quy định tại các Điều 25, 33, 35 Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận X, Thành phố HCM.


  1. Về những yêu cầu của các đương sự:

Căn cứ vào lời khai của các đương sự; căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do các đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở để xác định:

Phần đất có diện tích 1.357m2 (thuộc thửa 18; tờ bản đồ số 15) tọa lạc tại xã AP, huyện CC, Thành phố HCM được xác định trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) do ông LQ_Võ Văn Nam và ông LQ_Nguyễn Hùng lập tại BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu vào ngày 12/7/2013 (Số công chứng: 004286; Quyển số: 04TP/CC-SCC/HĐGD; Công chứng viên: Bùi Đức Cát) có nguồn gốc do bà Võ Thị Miễn là mẹ ruột cho con là ông LQ_Võ Văn Nam vào năm 1991.

Ông LQ_Võ Văn Nam và bà NĐ_Trần Bích Thùy đăng ký kết hôn vào ngày 07/02/2007 theo Giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân xã Nhuận Đức, huyện CC, Thành phố HCM cấp (Số 20; Quyển số 01/2007).

Ông LQ_Võ Văn Nam được Ủy ban nhân dân huyện CC, Thành phố HCM cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 31/10/2007 (Số phát hành AK060983; Số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00477/02). Theo đó, đất ở tại nông thôn là 31,5m2, đất trồng cây lâu năm là 1.561,5m2 . Hiện trạng theo Bản đồ hiện trạng vị trí (bổ túc hồ sơ xin chứng nhận quyền sử dụng đất) do Chi nhánh Công ty TNHH Đo đạc Xây dựng Kinh doanh nhà Hoàng Tần lập ngày 03/8/2007 (Số hợp đồng 248/ĐĐBĐ – HT/2006) có căn nhà tường tôn diện tích 31,5m2, còn lại là vườn tạp.

Ngày 04/02/2012, vợ chồng ông LQ_Nam – bà NĐ_Thùy đã chuyển nhượng cho ông LQ_Thái Văn Thắng - bà LQ_Nguyễn Thị Bích Hồng một phần đất có bề ngang 6 mét, bề dài hết đất trong tổng số đất nêu trên bằng giấy tay. Theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Chi nhánh Công ty Trách nhiệm hữu hạn Đo đạc San lấp mặt bằng Đất Thép lập ngày 03/02/2012 (Số hợp đồng 013 – 12/ĐĐBĐ-ĐT/CC) thì phần đất chuyển nhượng này có diện tích 479,6m2 .

Ngày 25/4/2012, vợ chồng ông LQ_Nam – bà NĐ_Thùy đã chuyển nhượng 236m2 đất trong tổng diện tích đất nêu trên cho ông Võ Văn Cu, theo Hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) do hai bên xác lập tại Văn phòng Công chứng CC, Thành phố HCM (Số công chứng: 005826; Quyển số: 02TP/CC-SCC/HĐGD; Công chứng viên: Dương Thái Hoàng). Hai bên đã thực hiện xong thủ tục tách thửa, sang tên theo quy định.

Ngày 17/7/2012, ông LQ_Võ Văn Nam được cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Số phát hành BL206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443). Theo đó, đất ở là 31,5m2, đất trồng cây lâu năm là 1.325,5m2.

Ngày 12/7/2013, ông LQ_Võ Văn Nam chuyển nhượng toàn bộ phần đất được xác định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Số phát hành BL206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443) cho ông LQ_Nguyễn Hùng thông qua Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) do hai bên xác lập tại BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu (Số công chứng: 004286; Quyển số: 04TP/CC- SCC/HĐGD; Công chứng viên: Bùi Đức Cát).

Theo Bản đồ hiện trạng vị trí do Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tư vấn xây dựng Thương mại Đo đạc và Bản đồ Phú Gia Thịnh lập ngày 09/6/2014 (Số hợp đồng 1382/HĐ-PGT/2014) thì căn nhà của vợ chồng ông LQ_Nam – bà NĐ_Thùy có diện tích là 79,5m2 với cấu trúc tường tole, mái tole, sân bê tông.

Đến ngày 13/12/2014, bà NĐ_Trần Bích Thùy khởi kiện tại Tòa án nhân dân Quận X, yêu cầu Tòa án tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) do ông LQ_Võ Văn Nam và ông LQ_Nguyễn Hùng lập tại BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu vào ngày 12/7/2013 (Số công chứng: 004286; Quyển số: 04TP/CC-SCC/HĐGD; Công chứng viên: Bùi Đức Cát) vô hiệu.

Bà NĐ_Trần Bích Thùy và các đương sự khác trong vụ án đều không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu.


Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét về nguồn gốc: Phần đất mà ông LQ_Võ Văn Nam đồng ý chuyển nhượng cho ông LQ_Nguyễn Hùng do mẹ ruột của ông LQ_Nam cho ông LQ_Nam vào năm 1991 theo Tờ tường trình nguồn gốc đất do ông LQ_Nam khai khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 23/4/2007.

Xét về diễn biến quá trình sử dụng đất: Sau khi vợ chồng ông LQ_Nam – bà NĐ_Thùy kết hôn vào ngày 07/02/2007, vợ chồng ông LQ_Nam – bà NĐ_Thùy đã cùng nhau trực tiếp quản lý, sử dụng đất, xây dựng nhà ở trên đất. Ông LQ_Nam tiến hành các thủ tục để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vào ngày 31/10/2007. Sau khi được cấp giấy chứng nhận, vợ chồng ông LQ_Nam – bà NĐ_Thùy đã cùng nhau thực hiện các quyền của người sử dụng đất thông qua việc chuyển nhượng các phần đất cho ông LQ_Thái Văn Thắng - bà LQ_Nguyễn Thị Bích Hồng, cho ông Võ Văn Cu. Tính đến thời điểm hiện nay, trên phần đất mà ông LQ_Nam thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Hòa có căn nhà cấu trúc tường tole, mái tole, sân bê tông của vợ chồng ông LQ_Nam – bà NĐ_Thùy với diện tích 79,5m2 . Ngoài ra, có cả phần đất diện tích 479,6m2 mà ông LQ_Nam – bà NĐ_Thùy đã chuyển nhượng cho ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng vào ngày 04/02/2012.

Mặc dù phần đất nêu trên có nguồn gốc do mẹ ruột của ông LQ_Nam cho ông LQ_Nam, tuy nhiên căn cứ vào diễn biến, quá trình sử dụng đất có đủ cơ sở để khẳng định: Ông LQ_Nam đã mặc nhiên thừa nhận căn nhà gắn liền với quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng thông qua việc xây dựng nhà ở trên đất, thông qua việc cùng nhau chuyển nhượng đất cho người

khác. Việc ông LQ_Nam tự ý chuyển nhượng phần đất, trên đất có nhà được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân, có cả phần đất đã chuyển nhượng cho ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng cho ông Hòa vừa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà NĐ_Thùy, vừa làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của ông LQ_Thắng - bà LQ_Hồng. Đối tượng chuyển nhượng mà ông LQ_Nam và ông Hòa xác định trong hợp đồng là quyền sử dụng đất không có tài sản gắn liền với đất là hoàn toàn không thể thực hiện được trên thực tế. Rõ ràng là Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) do ông LQ_Võ Văn Nam và ông LQ_Nguyễn Hùng lập tại BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu vào ngày 12/7/2013 có các nội dung làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, vi phạm điều cấm của pháp luật.


Việc BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu thực hiện việc công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp trong thời kỳ hôn nhân, nhưng không yêu cầu ông LQ_Võ Văn Nam cung cấp các loại giấy tờ xác nhận là tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc được vợ là bà NĐ_Trần Bích Thùy ủy quyền là thiếu chặt chẽ, không phù hợp với các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.


Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa, các đương sự đều không có yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả của việc tuyên bố giao dịch vô hiệu. Do vậy, Hội đồng xét xử không có gì để giải quyết thêm. Trong trường hợp các đương sự có yêu cầu thì có quyền khởi kiện thành vụ án dân sự khác tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo thủ tục chung.


Xét ý kiến, yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở và căn cứ pháp lý nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Cần phải tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) do ông LQ_Võ Văn Nam và ông LQ_Nguyễn Hùng lập tại BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu vào ngày 12/7/2013 (Số công chứng: 004286; Quyển số: 04TP/CC-SCC/HĐGD; Công chứng viên: Bùi Đức Cát) đối với phần đất có diện tích 1.357m2 (thuộc thửa 18; tờ bản đồ số 15) tọa lạc tại xã AP, huyện CC, Thành phố HCM (được xác định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Ủy ban nhân dân huyện CC, Thành phố HCM cấp cho ông LQ_Võ Văn Nam ngày 17/7/2012; Số phát hành BL206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443) là giao dịch dân sự vô hiệu.

Tại phiên tòa, ông LQ_Nguyễn Hùng thừa nhận hiện ông đang lưu giữ bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Ủy ban nhân dân huyện CC, Thành phố HCM cấp cho ông LQ_Võ Văn Nam ngày 17/7/2012 (Số phát hành BL206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443). Do hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu nên ông Hòa có trách nhiệm giao trả cho ông LQ_Võ Văn Nam – bà NĐ_Trần Bích Thùy giấy chứng nhận nêu trên ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.


  1. Về án phí:

Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự không có giá ngạch là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AD/2014/0004856 ngày 29/10/2014 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận X, Thành phố HCM.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 4, 9, 10, 11, 121, 122, 127, 128, 219, 221, 222, 223 Bộ luật Dân sự

năm 2005;

Căn cứ vào các Điều 27, 28 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; Căn cứ vào Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ vào Pháp lệnh Án phí, Lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án Dân sự;

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:

    1. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (không có tài sản gắn liền với đất) do ông LQ_Võ Văn Nam và ông LQ_Nguyễn Hùng lập tại BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu vào ngày 12/7/2013 (Số công chứng: 004286; Quyển số: 04TP/CC-SCC/HĐGD; Công chứng viên: Bùi Đức Cát) đối với phần đất có diện tích 1.357m2 (thuộc thửa 18; tờ bản đồ số 15) tọa lạc tại xã AP, huyện CC, Thành phố HCM (được xác định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Ủy ban nhân dân huyện CC, Thành phố HCM cấp cho ông LQ_Võ Văn Nam ngày 17/7/2012; Số phát hành BL206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443) là giao dịch dân sự vô hiệu.

    2. Buộc ông LQ_Nguyễn Hùng giao trả lại cho ông LQ_Võ Văn Nam – bà NĐ_Trần Bích Thùy bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Ủy ban nhân dân huyện CC, Thành phố HCM cấp cho ông LQ_Võ Văn Nam ngày 17/7/2012 (Số phát hành BL206220; Số vào sổ cấp GCN: CH01443) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

  2. Về án phí:

Buộc BĐ_Văn phòng Công chứng Nhân Hậu chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự không có giá ngạch là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

Hoàn trả cho bà NĐ_Trần Bích Thùy toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp khi khởi kiện là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AD/2014/0004856 ngày 29/10/2014 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận X, Thành phố HCM.

  1. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

  1. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án./.




Chat Zalo: 0902198579

Copyright © 2019 OPIC LAW All Right Reserved